Bản tin thị trường hàng ngày

Thảo luận trong 'Thị trường CFD - Index quốc tế' bắt đầu bởi commodityft, 21/06/2019.

  1. Giá dầu tăng mạnh
    Trên sàn NYMEX giá dầu thô WTI giao tháng 9 tăng 3.1 usd (tương đương 5.74%) lên 57.13 usd/barrel. Trên sàn ICE EU giá dầu thô Brent giao tháng 8 tăng 2,63 USD, tương đương 4,3% lên 64,45 usd/barrel.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 tăng 3.34% lên 1.7346 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 giảm 4.41% xuống còn 2.146 usd/MMBtu.
    Vàng tăng mạnh
    Chốt phiên giao dịch, giá vàng giao ngay trên sàn LBMA (London Bullion Market Association) tăng 2,2% lên 1.390,38 usd/oz. Giá vàng kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn New York tăng hơn 3,6% lên 1.396,90 usd/oz.
    Trên sàn Comex, giá bạc giao tháng 9 tăng 3.57 % lên 15.568 usd/oz. Còn đồng giao tháng 9 tăng 1.18% lên 2.712 usd/lb
    Trên sàn NYMEX hợp đồng bạch kim giao tháng 9 giảm nhẹ xuống còn 810.6 usd/oz.
    Giá café bật tăng mạnh
    Giá cà phê tăng mạnh do tác động mạnh mẽ từ sự gia tăng giá trị của đồng Real so với đồng USD. Về nguồn cung, số liệu mới nhất từ ICE cho thấy lượng cà phê Arabica tồn kho ghi nhận vẫn ở mức 2,381 triệu bao – tương đương số liệu của thứ 6 tuần trước.
    Trong phiên giao dịch ngày 20/6, giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London tăng thêm 47 usd (3.43%) lên 1419 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 có phiên hồi mạnh khi tăng thêm 3.85 cent (3.93%) lên 105.35cent/lb.
    Giá nông sản
    Trong phiên giao dịch ngày 19/6 giá Ngô giao tháng 7/2019
    giao dịch tại Chicago tăng 9 cent (2.94%) lên 450 cent/bushel, còn ngô tháng 9 tăng 8.5 cent (1.9%) lên 454.75 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 7 giao dịch tại Chicago cũng hồi phục trở lại khi tăng thêm 12.25 cent (1.36%) lên 915.5 cent/bushel, còn đậu tương giao tháng 9 tăng 12 cent (1.31%) lên 928 cent/bushel.
    Giá khô đậu tương tháng 7 tăng 6.1 usd (1.92%) usd/ tấn. và khô đậu giao tháng 9 cũng tăng thêm 6.1 usd lên 325.9 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 7 trên sàn Chicaco tăng 4.25 cent (0.81%) lên 526.5 cent/bushel, và lúa mỳ giao tháng 9 tăng 5 cent (0.95%) lên 531.75 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 giảm mạnh 67 usd (2.67%) xuống còn 2446 usd/tấn và cacao giao tháng 12 giảm 60 usd (2.37%) xuống 2470 usd/tấn.
    Bông sợi giao tháng 12 không còn giữ được đà tăng khi giảm 1.2 cent (1.79%) xuống 65.96 cent/lb.
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 tăng 0.5 jpy lên 223.5 jpy/kg.
    Đường giao giao tháng 10 giảm 0.47% còn 12.68 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 tăng tiếp 2.25 usd (2.21%) lên 103.92 usd/tấn.
     
    wildness bài này.
    Đang tải...

    [QC] - THÔNG TIN TỪ NHÀ TÀI TRỢ

  2. Giá dầu tiếp tục tăng cao
    Trong phiên giao dịch cuối tuần giá dầu thô Brent giao tháng 8/2019 tăng 75 cent, tương đương 1,2%, đạt mức 65,20 usd/barrel, trong khi giá dầu thô ngọt nhẹ WTI cùng kỳ hạn tăng 36 cent, tương đương 0,6%, đạt 57,43 usd/barrel.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 tăng 2.56% lên 1.779 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 giảm nhẹ 0.14% xuống còn 2.143 usd/MMBtu.
    Vàng tăng mạnh
    Chốt phiên giao dịch, giá vàng giao ngay trên sàn LBMA (London Bullion Market Association) tăng 0,6% lên 1.394,34 USD/ounce. Giá vàng kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn New York tăng 0,2% đạt mức 1.400,10 USD/ounce.
    Trên sàn Comex, giá bạc giao tháng 9 giảm 1.27% xuống 15.37 usd/oz. Còn đồng giao tháng 9 giảm 0.29 % xuống 2.704 usd/lb
    Trên sàn NYMEX hợp đồng bạch kim giao tháng 9 tăng 5.1 usd (0.63%) lên 815.7 usd/oz.
    Giá café giảm trên cả hai sàn
    Giá café đảo chiều sụt giảm trên cả hai sàn kỳ hạn sau ngày nghỉ lễ cộng đồng của các quốc gia sản xuất cà phê chủ chốt đã được thị trường suy đoán. Áp lực bán hàng vụ mới từ hai nhà sản xuất café chính là Brasil và Colombia vẫn còn nguyên, trong khi dự báo toàn cầu dư cung nên họ sẽ mạnh tay bán bất kỳ lúc nào có thể.
    Đồng Real Brasil tăng 0,45% lên ở mức 1 USD = 3,8250 brl, trong khi USD tiếp tục giảm đã ngặn chặn sức bán đầu cơ giúp giá café không giảm sâu. Thông tin các ngân hàng trung ương đang chuẩn bị đưa ra chính sách tiên tệ mới, sau khi Fed công bố chưa cắt giảm lãi suất USD kỳ này, cũng góp phần tác động tích cực đáng kể lên hầu hết các thị trường hàng hóa phái sinh.
    Trong phiên giao dịch ngày 21/6, giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London quay đầu giảm 45 usd (0.35%) xuống còn 1414 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US cũng có phiên giảm 1.15 cent (1.13%) xuống còn 100.65 cent/lb.
    Giá nông sản trong phiên giao dịch cuối tuần đồng loạt điều chỉnh
    Trong phiên giao dịch ngày 21/6 giá Ngô giao tháng 7/2019
    giao dịch tại Chicago giảm 7.75 cent (1.72%) xuống 442.25 cent/bushel, còn ngô tháng 9 giảm 7.25 cent (1.59%) xuống còn 447.5 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 7 giao dịch tại Chicago giảm 12.75 cent (1.39%) xuống còn 902.75cent/bushel. Trong khi đó giá đậu tương giao tháng 9 cũng giảm 13.25 cent (1.43%) xuống còn 914.75cent/bushel
    Giá khô đậu tương tháng 7 giảm 7.4 usd (2.29%) còn 315.6 usd/ tấn. và khô đậu giao tháng 9 cũng giảm 7.1 usd (2.18%) xuống còn 318.8 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 7 trên sàn Chicaco chỉ giảm 0.5 cent xuống 526 cent/bushel, và lúa mỳ giao tháng 9 giảm 1 cent xuống 530.75 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 tăng 56 usd (2.29%) lên 2502 usd/tấn và cacao giao tháng 12 tăng 53 usd (2.15%) lên 2523 usd/tấn.
    Bông sợi giao tháng 12 giảm tiếp 0.4 cent (0.64%) xuống 65.56 cent/lb.
    Đường giao giao tháng 10 giảm 0.2 cent (1.58%) còn 12.48 cent/lb.
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 giảm 1.2 jpy (0.54%) xuống 222.3 jpy/kg.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 giảm nhẹ 0.33% xuống còn 103.58 usd/tấn.
    Lưu ý: Trong tuần này các hợp đồng nông sản (ngô, đậu tương, lúa mỳ, khô đậu, dầu đậu) giao tháng 7 sẽ đến ngày tất toán hợp đồng vào ngày 25/6.
    --
     
  3. Giá dầu tiếp tục tăng cao
    Đóng cửa phiên ngày 24/6, dầu thô Brent giao tháng 8 giảm 34 cent (0,5%) xuống 64,86 usd/barrel. Dầu thô ngọt nhẹ tăng 47 cent ( 0,8%) lên 57,90 usd/barrel.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 tăng nhẹ lên 1.7798 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 tăng khá mạnh thêm 5.27% lên 2.256 usd/MMBtu.
    Vàng tăng mạnh
    Chốt phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tăng 1,2% lên 1.415,16 usd/oz, tăng phiên thứ 5 liên tiếp. Giá vàng giao tháng 8 tăng 18.10 usd (tương đương 1.3%) lên 1,418.20 usd/oz, sau khi dao động tại mức cao 1,421 USD/oz
    Trên sàn Comex, giá bạc giao tháng 9 tăng 0.6% lên 15.461 usd/oz. Còn đồng giao tháng 9 tăng nhẹ lên 2.705 usd/lb
    Trên sàn NYMEX hợp đồng bạch kim giao tháng 9 tăng nhẹ thêm 0.6 usd lên 81.3 usd/oz.
    Giá café tăng trở lại trên cả hai sàn
    Tỷ giá usd/brl tiếp tục duy trì quanh mốc 3.82 brl đổi 1 usd. Về nguồn cung, số liệu mới nhất từ ICE cho thấy lượng cà phê Arabica tồn kho tiếp tục suy yếu vào cuối tuần trước khi chỉ đạt mốc 2,377 triệu bao – tiếp tục giảm thêm 4.000 bao sau một tuần duy trì ở mốc 2,381 triệu bao
    Trong phiên giao dịch ngày đầu tuần ngày 24/6, giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London tăng trở lại, chốt phiên tăng thêm 8 usd (0.57%) lên 1422 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US cũng tăng thêm 2.35 cent (2.33%) lên 103 cent/lb.
    Giá nông sản hồi phục trở lại
    Trong phiên giao dịch ngày 24/6 giá Ngô giao tháng 7/2019
    giao dịch tại Chicago tăng 4.5 cent (1.02%) lên 446.75 cent/bushel, còn ngô tháng 9 tăng 4.25 cent (0.95%) lên 451.75 cent/bushel, hiện tại giá ngô tháng 9 đang giao dịch tại giá 455.75 cent/bushel tăng thêm 4 cent so với giá chốt phiên.
    Giá đậu tương giao tháng 7 giao dịch tại Chicago tăng 6.25 cent (0.69%) lên 909 cent/bushel. Trong khi đó giá đậu tương giao tháng 9 tăng 5.75 cent (0.63%) lên 920.5 cent/bushel
    Giá khô đậu tương tháng 7 tăng 2 usd (0.63%) lên 317.6 usd/ tấn. và khô đậu giao tháng 9 tăng 1.8 usd (0.56%) lên 320.6 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 7 trên sàn Chicaco tăng 12 cent (2.28%) lên 538 cent/bushel, và lúa mỳ giao tháng 9 tăng 11.75 cent (2.21%) lên 542.5 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 giảm 15 cent (0.6%) xuống 2487 usd/tấn và cacao giao tháng 12 giảm 12 usd (0.48%) xuống còn 2511 usd/tấn.
    Bông sợi giao tháng 12 tăng nhẹ thêm 0.2% lên 65.69 cent/lb.
    Đường giao giao tháng 10 giảm nhẹ còn 12.47 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 giảm nhẹ 0.34% xuống còn 103.23 usd/tấn.
     
  4. Giá dầu tiếp tục tăng cao
    Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Ba, hợp đồng dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 8 trên sàn Nymex giảm 7 cent (tương đương 0.1%) xuống 57.83 usd/barrel. Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 8 trên sàn London tăng 19 cent (tương đương 0.3%) lên 65.05 usd/barrel.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 tăng 1.42% lên 1.8051 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 tăng nhẹ lên 2.260 usd/MMBtu.
    Trên sàn Comex, giá bạc giao tháng 9 giảm 0.5% còn 15.383 usd/oz. Còn đồng giao tháng 9 tăng 1.11% lên 2.735 usd/lb
    Trên sàn NYMEX hợp đồng bạch kim giao tháng 9 giảm nhẹ 1.8 usd xuống 814.5 usd/oz.
    Giá café tăng mạnh trên cả hai sàn
    Trong phiên giao dịch ngày 25/6, giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London tăng khá mạnh, chốt phiên tăng thêm 33 usd (2.32%) lên 1455 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 cũng tăng thêm 31 usd (2.14%) lên 1480 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US cũng tăng thêm 4.45 cent (4.32%) lên 107.45 cent/lb. Còn café arbica giao tháng 12 tăng thêm 4.55 cent (4.27%) lên 111.05 cent/lb.
    Giá nông sản
    Trong phiên giao dịch ngày 25/6 giá Ngô giao tháng 9/2019
    giao dịch tại Chicago tăng 1.25 cent (0.28%) lên 453 cent/bushel nhưng vẫn giảm so với giá cao nhất trong phiên là 458 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago giảm 6 cent (0.65%) xuống 914.5 cent/bushel.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 giảm 2.2 usd (0.69%) xuống 318.4 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicaco giảm 2.5 cent (0.46%) xuống 540 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 giảm 23 usd (0.92%) xuống 2464 usd/tấn và cacao giao tháng 12 giảm 20 usd (0.80%) xuống còn 2491 usd/tấn.
    Bông sợi giao tháng 12 tăng nhẹ lên 65.72cent/lb.
    Đường giao giao tháng 10 tăng nhẹ 0.8% lên 12.57 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 giảm 2.28 usd (2.21%) xuống còn 101.67 usd/tấn.
     
  5. Giá dầu tiếp tục tăng cao
    Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ tư, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 8 trên sàn Nymex tăng 1.55 usd (tương đương 2.7%) lên 59.38 usd/barrel, sau khi chạm mức cao 59.93 usd/barrel trong phiên. Trong khi đó dầu Brent giao tháng 8 trên sàn London tăng 1.44 usd (tương đương 2.2%) lên 66.49 usd/barrel, mức đóng cửa cao nhất trong 1 tháng.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 tiếp tục tăng cao 4.29% lên 1.8826 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 giảm nhẹ 0.7% xuống 2.244 usd/MMBtu.
    Vàng chấm dứt chuỗi tăng
    Chốt phiên giao dịch, giá vàng giao ngay giảm 0,8% xuống 1.411,21 usd/oz. Giá vàng kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn New York giảm 0,2% xuống 1.415,4 usd/oz.
    Trên sàn Comex, giá bạc giao tháng 9 giảm nhẹ còn 15.375 usd/oz. Còn đồng giao tháng 9 giảm 0.71% xuống 2.7155 usd/lb
    Trên sàn NYMEX hợp đồng bạch kim giao tháng 9 tăng 7.5 usd lên 822 usd/oz.
    Giá café điều chỉnh
    Trong phiên giao dịch ngày 26/6, giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London giảm 21 usd (1.44%) xuống 1434 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 cũng giảm 19usd (1.28%) còn 1461 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US giảm 1.4 cent (1.3%) xuống 106.05 cent/lb, trong phiên có lúc giá lên tới 108.2 cent/lb. Còn café arbica giao tháng 12 cũng giảm 1.45 cent (1.31%) xuống 109.6 cent/lb.
    Giá nông sản
    Trong phiên giao dịch ngày 26/6 giá Ngô giao tháng 9/2019
    giao dịch tại Chicago giảm 3.5 cent (0.77%) xuống 449.5 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago giảm 8.5 cent (0.89%) xuống 906 cent/bushel.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 giảm 2.5 usd (0.79%) xuống 315.9 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicaco giảm 2.5 cent (0.46%) xuống 540 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 giảm nhẹ 3 usd xuống 2461 usd/tấn và cacao giao tháng 12 giảm 1 usd xuống còn 2490 usd/tấn.
    Bông sợi giao tháng 12 tăng 0.67 cent (1.02%) lên 66.39 cent/lb.
    Đường giao giao tháng 10 giảm 0.25 cent ( 2%) xuống 12.32 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 giảm 2.28 usd (2.21%) xuống còn 101.67 usd/tấn. Cao su TSR giao tháng 9 tăng 0.3 cent (0.2%) lên 147.8 cent/kg.
     
  6. Giá dầu tăng nhẹ
    Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ năm, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 8 trên sàn Nymex tăng 5 cent (tương đương gần 0.1%) lên 59.43 usd/barrel, mức đóng cửa cao nhất mới kể từ ngày 22/05/2019. Từ đầu tháng đến nay, hợp đồng này đã tăng 11%.
    Giá dầu Brent giao tháng 8 trên sàn London nhích 6 cent (tương đương 0.1%) lên 66.55 usd/barrel, mức đóng cửa cao nhất trong 1 tháng. Dầu Brent đã vọt hơn 3% từ đầu tháng đến nay.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 giảm nhẹ 0.63% xuống còn 1.8707 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 tăng 2.41% lên 2.298 usd/MMBtu.
    Trên sàn Comex, giá bạc giao tháng 9 giảm nhẹ 0.53% còn 15.294 usd/oz. Còn đồng giao tháng 9 giao dịch trong biên độ thấp vẫn giữ quanh 2.7165 usd/lb
    Trên sàn NYMEX hợp đồng bạch kim giao tháng 10 giảm 4.5 usd xuống 817.5 usd/oz.
    Giá café tăng giảm trái chiều trên 2 sàn
    Trong phiên giao dịch ngày 27/6, giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London giảm nhẹ 4 usd xuống 1430 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 cũng giảm 2 usd còn 1459 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US tăng 0.65 cent (0.61%) lên 106.7 cent/lb. Còn café arbica giao tháng 12 cũng tăng 0.7 cent (0.64%) lên 110.3 cent/lb.
    Giá nông sản tiếp tục điều chỉnh
    Trong phiên giao dịch ngày 27/6 giá Ngô giao tháng 9/2019
    giao dịch tại Chicago giảm tiếp 3.75 cent (0.83%) xuống 445.75 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago giảm 6 cent (0.66%) xuống 900 cent/bushel.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 giảm 1.1 usd (0.35%) xuống 314.8 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicago tăng nhẹ 0.25 cent lên 546.75 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 giảm nhẹ 8 usd (0.37%) xuống 2453 usd/tấn và cacao giao tháng 12 giảm 6 usd xuống còn 2484 usd/tấn.
    Bông sợi giao tháng 12 giảm 0.3 cent (0.45%) xuống còn 66.09 cent/lb.
    Đường giao giao tháng 10 tăng mạnh thêm 0.46 cent (3.73%) lên 12.78 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 tăng 0.82 usd lên 102.68 usd/tấn. Cao su TSR giao tháng 9 giảm 0.4 cent xuống 147.4 cent/kg.
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 tăng nhẹ thêm 0.41% lên 221.9 jpy/kg.
     
  7. Giá dầu tăng nhẹ
    Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ 6, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 9 trên sàn Nymex giảm 0.97 usd (1.63%) xuống 58.52 usd/barrel. Trong 6 tháng đầu năm 2019 dầu WTI tăng hơn 25%.
    Giá dầu Brent giao tháng 8 trên sàn London giảm 0.93usd xuống 64.75 usd/barrel. Trong 6 tháng đầu năm dầu Brent tăng hơn 20%.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 giảm nhẹ 0.89% xuống còn 1.8541 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 giảm 0.7% xuống 2.282 usd/MMBtu.
    Trên sàn Comex, giá bạc giao tháng 9 tăng nhẹ 0.31 % lên 15.341 usd/oz. Còn đồng giao tháng 9 giao dịch trong biên độ thấp vẫn giữ quanh 2.7135 usd/lb
    Trên sàn NYMEX hợp đồng bạch kim giao tháng 10 tăng 23.6 usd gần 3% lên 841.1 usd/oz.
    Giá café tăng mạnh trở lại
    Trong phiên giao dịch cuối tuần ngày 28/6, giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London tăng 21 usd (1.47%) lên 1451 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 tăng 20 usd (1.37%) lên 1479 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US tăng 2.75 cent (2.58%) lên 109.45 cent/lb. Còn café arbica giao tháng 12 cũng tăng 2.75 cent (2.49%) lên 113.05 cent/lb.
    Giá nông sản ngô, lúa mỳ tiếp tục điều chỉnh, trong khi đậu tương tăng trở lại do tin hỗ trợ từ đàm phán Mỹ - Trung.
    Trong phiên giao dịch ngày 28/6 giá Ngô giao tháng 9/2019
    giao dịch tại Chicago giảm mạnh 21 cent (4.71%) xuống 424.75 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago tăng trở lại thêm 11 cent (1.22%) lên 911 cent/bushel, hiện tại giá đậu tương đang giao dịch tại 917 cent/bushel tăng thêm 6 cent.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 cũng tăng thêm 2.5 usd lên 317.3 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicago giảm 19.5 cent (3.57%) xuống 527.25 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 giảm 28 usd (1.14%) xuống 2425 usd/tấn và cacao giao tháng 12 giảm 26 usd (1.05%) xuống còn 2458 usd/tấn.
    Bông sợi giao tháng 12 giảm nhẹ xuống còn 66.08 cent/lb. Hiện tại giá bông sợi tăng 1.85 cent (2.8%) lên 67.93 cent/lb
    Đường giao giao tháng 10 giảm nhẹ 0.16 cent (1.25%) xuống còn 12.62 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 tăng 1.5 usd (1.46%) lên 104.18 usd/tấn. Cao su TSR giao tháng 9 giảm 2.1 cent xuống 145.3 cent/kg.
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 giảm nhẹ 0.5 jpy xuống 221.4 jpy/kg.
     
  8. Giá dầu tăng sau khi OPEC cắt giảm sản lượng
    Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Hai, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 9 trên sàn Nymex tăng 0.62 cent (1.06%) lên 59.14 usd/barrel. Còn giá dầu Brent giao tháng 9 trên sàn London tăng 32 cent (tương đương 0.5%) lên 65.06 usd/barrel.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 tăng 1.48% lên 1.8815 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 giảm 1.75% xuống 2.242 usd/MMBtu.
    Trên sàn Comex, giá bạc giao tháng 9 giảm 0.96% xuống 15.193 usd/oz. Còn giá đồng giao tháng 9 giảm nhẹ 0.94% xuống còn 2.688 usd/lb
    Trên sàn NYMEX giá bạch kim giao tháng 10 giảm 3.9usd (0.46%) xuống 837.2 usd/oz.
    Giá café vẫn giữ đà tăng
    Tỷ giá usd/brl tiếp tục ổn định quanh mức 1 usd đổi được 3.84 brl, trong khi đó sản lượng dự trữ cà phê của sàn ICE US đã giảm xuống mức 2.379 triệu bao trong phiên giao dịch vừa qua.
    Trong phiên giao dịch đầu tuần ngày 01/7, giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London tăng tiếp 23 usd (1.59%) lên 1474 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 tăng 24 usd (1.62%) lên 1503 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US tăng tiếp 1.9 cent (1.74%) lên 111.35 cent/lb, trong phiên có lúc giá tăng lên 114 cent/lb. Còn café arbica giao tháng 12 cũng tăng 1.9 cent (1.68%) lên 114.95 cent/lb.d1
    Giá nông sản điều chỉnh khá mạnh
    Trong phiên giao dịch ngày 01/7 giá Ngô giao tháng 9/2019
    giao dịch tại Chicago giảm 9.25 cent (2.18%) xuống 415.5 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago quay đầu giảm 14.75 cent (1.62%) xuống 896.25 cent/bushel.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 cũng giảm 8.2 usd (2.58%) xuống 309.1 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicago giảm 15.5 cent (2.94%) xuống 511.75 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 tăng 76 usd (3.13%) lên 2501 usd/tấn và cacao giao tháng 12 tăng 67 usd (2.73%) lên 2525 usd/tấn.
    Bông sợi giao tháng 12 tăng 0.5 cent (0.76%) lên 66.58 cent/lb so với giá cao nhất trong phiên là 68.30 giá bông sợi hiện tại đã giảm 1.7 cent.
    Đường giao giao tháng 10 giảm nhẹ (0.4%) xuống còn 12.57 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 tăng mạnh thêm 5.25 usd (5.04%) lên 109.43 usd/tấn. Cao su TSR giao tháng 9 tăng 1.7 cent (1.17%) lên 147 cent/kg.
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 tăng nhẹ 0.6 jpy (0.27%) lên 222 jpy/kg.
     
  9. Giá dầu giảm mạnh
    Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ ba, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 9 trên sàn Nymex giảm 2.8 usd (4.73%) xuống 56.34 usd/barrel. Còn giá dầu Brent giao tháng 9 trên sàn London giảm 2.66 usd (2.84%) xuống 62.4 usd/barrel.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 giảm 3.1% xuống 1.8231 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 giảm 1.12% xuống 2.217 usd/MMBtu.
    Trên sàn Comex, giá bạc giao tháng 9 tăng 0.3% lên 15.238 usd/oz. Còn giá đồng giao tháng 9 giảm 0.89% xuống còn 2.664 usd/lb
    Trên sàn NYMEX giá bạch kim giao tháng 10 tăng nhẹ 1.5 usd lên 838.7 usd/oz.
    Giá café điều chỉnh từ mức cao của 7 tháng
    Tỷ giá usd/brl giao dịch quanh mức 1 usd đổi được 3.845 brl. Về nguồn cung, báo cáo cuối ngày thứ 2 từ ICE cho thấy lượng cà phê Arabica tồn kho ghi nhận được ở mốc 2,370 triệu bao – mức thấp nhất trong hơn 8 tháng gần đây. Trong tháng 6/2019 Brazil đã xuất khẩu 2,8 triệu bao cà phê tăng so với 2,16 triệu bao cùng kỳ năm ngoái, nguồn cung tương đối dồi dào.
    Trong phiên giao dịch ngày 02/7, giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London giảm 30 usd (2.04%) xuống 1444 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 cũng giảm 29 usd (1.93%) còn 1474 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US quay đầu giảm 1.7 cent (1.53%) xuống 109.65 cent/lb. Còn café arbica giao tháng 12 cũng giảm 1.6 cent (1.39%) xuống 113.35 cent/lb.
    Giá nông sản lúa mỳ và đậu tương tiếp tục điều chỉnh khá mạnh trong khi ngô tăng nhẹ
    Trong phiên giao dịch ngày 01/7 giá Ngô giao tháng 9/2019
    giao dịch tại Chicago tăng 3.5 cent (0.84%) lên 419 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago giảm tiếp 10.25 cent (1.14%) xuống 886 cent/bushel.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 cũng giảm 1.6 usd (0.45%) xuống 307.7 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicago giảm 8.5 cent (1.66%) xuống 503.25 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 giảm 29 usd (1.16%) xuống 2472 usd/tấn
    Bông sợi giao tháng 12 tăng 0.71 cent (1.07%) lên 67.29 cent/lb
    Đường giao giao tháng 10 giảm 0.22 cent (1.75%) xuống còn 12.35 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 tăng thêm 2.84 usd (2.6%) lên 112.27 usd/tấn. Cao su TSR giao tháng 9 giảm 1.5 cent (1.02%) lên 145.5 cent/kg.
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 giảm 2.1 jpy (0.95%) xuống 219.9 jpy/kg.
     
  10. Giá dầu tăng sau khi nguồn cung tại Mỹ sụt giảm.
    Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Hai, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 9 trên sàn Nymex tăng 1.1usd (1.95%) lên 57.44 usd/barrel. Còn giá dầu Brent giao tháng 9 trên sàn London tăng 1.42 usd (tương đương 2.3%) lên 63.82 usd/barrel.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 tăng 2.23% lên 1.8637 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 tăng 2.07 % lên 2.263 usd/MMBtu.
    Trên sàn Comex, giá bạc giao tháng 9 tăng 0.64 % lên 15.336 usd/oz. Còn giá đồng giao tháng 9 tăng 0.71 usd lên 2.683 usd/lb
    Trên sàn NYMEX giá bạch kim giao tháng 10 tăng 4.9 usd (0.58%) lên 843.6 usd/oz.
    Giá café vẫn giữ đà tăng
    Tỷ giá usd/brl tiếp tục ổn định quanh mức 1 usd đổi được 3.826 brl.
    Trong phiên giao dịch đầu tuần ngày 03/7, giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London tăng 11 usd (0.76%) lên 1455 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 tăng 11 usd (0.75%) lên 1485 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US tăng tiếp 4 cent (3.65%) lên 113.65 cent/lb. Còn café arbica giao tháng 12 cũng tăng 4 cent (3.53%) lên 117.35 cent/lb.
    Giá nông sản đồng loạt tăng
    Trong phiên giao dịch ngày 03/7 giá Ngô giao tháng 9/2019
    giao dịch tại Chicago tăng 17.75 cent (4.24%) lên 436.75 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago tăng trở lại thêm 10.25 cent (1.16%) lên 896.25 cent/bushel.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 tăng 2.4 usd (0.78%) lên 310.1 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicago tăng 10.75 cent (2.14%) lên 514 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 giảm 39 usd (1.58%) xuống 2433usd/tấn
    Bông sợi giao tháng 12 biến động nhẹ vẫn đóng cửa tại giá 67.25 cent/lb
    Đường giao giao tháng 10 tăng thêm 1.54% lên 12.54 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 tăng 0.89 usd (0.79%) lên 113.16 usd/tấn. Cao su TSR giao tháng 9 giảm 1.1 cent (0.76%) xuống 144.4 cent/kg.
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 giảm 4 jpy (1.86%) còn 215.8 jpy/kg.
     
  11. Giá dầu giảm trong tuần
    Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 9 trên sàn Nymex tăng nhẹ 0.17 usd (0.26%) lên 57.59 usd/barrel. Tính chung trong cả tuần dầu WTI giảm 1.8%. Còn giá dầu Brent giao tháng 9 trên sàn London tăng 0.93usd lên 64.23 usd/barrel, tính chung cả tuần dầu Brent giảm 3.3 %.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 tăng nhẹ 0.61% lên 1.875 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 tăng 5.57% lên 2.389 usd/MMBtu.
    Trên sàn Comex, giá bạc giao tháng 9 giảm 2.19% xuống sát 15 usd/oz. Còn giá đồng giao tháng 9 giảm 0.82% xuống còn 2.661 usd/lb
    Trên sàn NYMEX giá bạch kim giao tháng 10 giảm 32.2 3.82% xuống 811.4 usd/oz.
    Giá café điều chỉnh trên cả 2 sàn
    Tỷ giá usd/brl giao dịch quanh mức 1 usd đổi được 3.8213 brl. Giá café có thể gặp thêm bất lợi về giá khi báo cáo kết quả xuất khẩu tháng 6 của các nước sản xuất hàng đầu gia tăng mạnh. Xuất khẩu café của Colombia tăng 25,28% và Brazil tăng 29,83% so với cùng kỳ năm trước.
    Trong phiên giao dịch ngày cuối tuần , giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London giảm 30 usd (2.04%) xuống 1444 usd/tấn, trong phiên có lúc giá café đạt mức cao 1490 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 cũng giảm 29 usd (1.93%) còn 1473 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US quay đầu giảm 2.55 cent (2.24%) xuống 111.1 cent/lb. Còn café arbica giao tháng 12 cũng giảm 2.55 cent (2.17%) xuống 114.8 cent/lb.
    Giá nông sản đậu tương giảm trong khi lúa mỳ và ngô biến động ít trong phiên giao dịch cuối tuần
    Giá Ngô giao tháng 9/2019
    giao dịch tại Chicago tăng 2 cent (0.46%) lên 438.75 cent/bushel, hiện tại ngô đang giao dịch tại 443.75 cent/bushel tăng thêm 5 cent so với chốt phiên cuối tuần.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago giảm 14 cent (1.56%) xuống 882.25 cent/bushel. Hiện tại giá đậu tương đang giao dịch tại giá 887.25 cent/bushel tăng 5 cent.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 cũng giảm 2.6 usd (0.84%) xuống 307.5 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicago tăng 1 cent lên 515 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 tăng 30 usd (1.23) xuống 2463 usd/tấn
    Bông sợi giao tháng 12 giảm 0.43 cent (0.64%) xuống 66.82 cent/lb
    Đường giao giao tháng 10 giảm 0.18 cent (1.44%) xuống còn 12.36 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 giảm khá mạnh so với mức đỉnh hiện tại giá chỉ còn 103.7 usd/tấn. Cao su TSR giao tháng 9 tăng 11.6 cent (1.11%) lên 145.6 cent/kg.
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 giảm nhẹ còn 212.8 jpy/kg.
     
  12. Giá dầu biến động nhẹ
    Kết thúc phiên giao dịch đầu tuần, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 9 trên sàn Nymex tăng nhẹ 0.17 usd (0.3%) lên 57.76 usd/barrel.. Còn giá dầu Brent giao tháng 9 trên sàn London giảm 0.12 usd xuống 64.11 usd/barrel.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 giảm nhẹ 1.15% xuống còn 1.8534 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 giảm nhẹ 0.21% còn 2.384 usd/MMBtu.
    Trên sàn Comex, giá bạc giao tháng 9 hồi nhẹ 0.33% lên 15.05 usd/oz. Còn giá đồng giao tháng 9 giao dịch quanh 2.659 usd/lb
    Trên sàn NYMEX giá bạch kim giao tháng 10 tăng 9 usd (1.11%) lên xuống 820.4 usd/oz.
    Giá café tiếp tục điều chỉnh mạnh
    Tỷ giá usd/brl giao dịch quanh mức 1 usd đổi được 3.8023 brl. Về nguồn cung, dữ liệu từ liên đoàn cà phê Columbia cho biết lượng cà phê xuất khẩu của nước này đạt 1,13 triệu bao – tăng 24% so với cùng kỳ năm ngoái. Số liệu mới nhất từ ICE cho thấy lượng cà phê Arabica tồn kho hiện đang ghi nhận được mức 2,372 triệu bao – giảm nhẹ so với tuần trước
    Trong phiên giao dịch đầu tuần , giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London giảm 18 usd (1.25%) xuống 1426 usd/tấn, trong phiên có lúc giá café đạt mức cao 1468 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 cũng giảm 17 usd (1.15%) còn 1456 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US giảm mạnh 4.7 cent (4.23%) xuống 106.4 cent/lb, trong phiên có lúc giá café hồi mạnh lên 114.65 cent/lb. Còn café arbica giao tháng 12 cũng giảm 4.6 cent (4%) xuống 110.2 cent/lb.
    Giá nông sản biến động ít trong phiên đầu tuần đợi tin dự báo cung cầu hàng tháng của USDA vào ngày thứ năm (11/7/2019).
    Giá Ngô giao tháng 9/2019 giao dịch tại Chicago tăng nhẹ 0.75cent lên 439.5 cent/bushel nhưng vẫn giảm 5 cent so với giá mở cửa phiên ngày hôm qua là 444.5 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago tăng 3 cent (0.34%) lên 885.25 cent/bushel.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 cũng giảm 0.1 usd xuống 307.4 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicago giảm 4 cent (0.78%) 511 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 tăng rất mạnh thêm 114 usd (4.63%) lên 2577 usd/tấn, còn cacao giao tháng 12 cũng tăng thêm 109 usd (4.38%) lên 2598 usd/tấn.
    Bông sợi giao tháng 12 giảm 1.18 cent (1.77%) xuống 65.64 cent/lb
    Đường giao giao tháng 10 tăng 0.73% lên 12.45 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 tăng 4.14 usd (3.99%) lên 107.84 usd/tấn. Cao su TSR giao tháng 9 giảm 2.8 cent (1.92%) lên 142.8 cent/kg.
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 giảm nhẹ còn 212.2 jpy/kg.
     
  13. Giá vàng tăng vọt sau động thái từ FED
    Giá vàng thế giới giao ngay hiện tại đứng ở mức 1.424 USD/ounce. Giá vàng giao tháng 8 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.428 USD/ounce.
    Trên sàn Comex trong phiên giao dịch hôm qua giá bạc giao tháng 9 tăng 0.52% lên 15.226 usd/oz. Còn giá đồng giao tháng 9 tăng 2.63% lên 2.694 usd/lb
    Trên sàn NYMEX giá bạch kim giao tháng 10 tăng 14.9 usd (1.83%) lên 830 usd/oz
    Giá dầu tăng vọt
    Kết thúc phiên giao ngày hôm qua, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 9 trên sàn Nymex tăng nhẹ 2.58 usd (4.45%) lên 60.52 usd/barrel.. Còn giá dầu Brent giao tháng 9 trên sàn London tăng 2.85 usd (4.4%) lên 67.01 usd/barrel.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 cũng tăng lại 3.85% lên 1.9468 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 tăng 0.7% lên 2.433 usd/MMBtu.
    Giá café điều chỉnh trở lại
    Tỷ giá usd/brl giao dịch giảm về 1 usd đổi được 3.7536 brl. Về nguồn cung, số liệu mới nhất từ ICE cho thấy lượng cà phê Arabica tồn kho đạt mốc 2,37 triệu bao – cao hơn 7.000 bao so với ngày hôm trước
    Trong phiên giao dịch ngày 10/7 , giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London giảm 10 usd (0.42%) còn 1430 usd/tấn, trong phiên có lúc giá café lên 1461 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 cũng giảm 7 usd (0.48%) xuống 1460 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US cũng giảm 1.55 cent (1.44%) xuống 105.9 cent/lb, trong phiên có lúc giá café phục hồi lên 109.3 cent/lb. Còn café arbica giao tháng 12 cũng giảm 1.6 cent (1.44%) còn 109.7 cent/lb.
    Giá nông sản hồi phục nhẹ
    Giá Ngô giao tháng 9/2019
    giao dịch tại Chicago tăng 2.5 cent (0.58%) lên 435 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago tăng 8.5 cent (0.95%) lên 900.25 cent/bushel.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 cũng tăng 1.5usd (0.48%) lên 312.4 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicago tăng 2 cent (0.4%) lên 504.75 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 giảm 13 usd (0.52%) xuống 2509 usd/tấn, còn cacao giao tháng 12 cũng giảm 8usd (0.31%) xuống 2546 usd/tấn.
    Bông sợi giao tháng 12 tăng 0.54 cent (0.85%) lên 63.82 cent/lb
    Đường giao giao tháng 10 tăng 1.21% lên 12.5 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 giảm 2.1 usd (1.88%) xuống 109.65 usd/tấn. Cao su TSR giao tháng 9 giữ nguyên với giá thanh toán là 139.4 cent/kg.
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 tăng 3.5 jpy (1.68%) lên 211.9 jpy/kg.
     
  14. Trên sàn Comex trong phiên giao dịch hôm qua giá bạc giao tháng 9 giảm 0.53% còn 15.146 usd/oz. Còn giá đồng giao tháng 9 giảm 0.24% còn 2.6875 usd/lb
    Trên sàn NYMEX giá bạch kim giao tháng 10 tăng 0.9 usd lên 830.9 usd/oz
    Giá dầu
    Kết thúc phiên giao ngày hôm qua, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 9 trên sàn Nymex giảm 24 cent (0.4%) còn 60.28 usd/barrel.. Còn giá dầu Brent giao tháng 9 trên sàn London giảm 49 cent (0.7%) còn 66.52 usd/barrel.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 giảm nhẹ 0.68% còn 1.9335 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 giảm 1.32% còn 2.401 usd/MMBtu.
    Giá café
    Tỷ giá usd/brl giao dịch quanh ngưỡng 1 usd đổi được 3.756 brl. Theo dữ liệu báo cáo tổng hợp của Hội đồng xuất khẩu cà phê (Cecafé) Brasil, nhà sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới đã kết thúc niên vụ 2018/2019 với mức xuất khẩu đạt tổng cộng 41,1 triệu bao cà phê, bao 60 kg trong thời gian từ đầu tháng 7/2018 đến hết tháng 6/2019. Kết quả này đã thiết lập kỷ lục lịch sử xuất khẩu mới của Brasil trong một niên vụ cà phê và đã tăng 35% so với niên vụ cà phê trước 2017/2018 với 30,5 triệu bao cà phê được xuất khẩu, bao gồm cà phê nhân, cà phê rang xay và cà phê hòa tan giá trị gia tăng được qui đổi. Giá trị kim ngạch xuất khẩu cà phê của niên vụ 2018/2019 đạt tổng cộng 5,3 tỷ USD tăng 9,8%, trong khi mức giá bình quân xuất khẩu đạt 131,14 USD, giảm 18,7% so với niên vụ 2017/2018.
    Về nguồn cung số liệu mới nhất từ ICE cho thấy lượng cà phê Arabica tồn kho ghi nhận được ở mốc 2,369 triệu bao – thấp hơn 3.000 bao so với số liệu đầu tuần này.
    Trong phiên giao dịch ngày 11/7 , giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London giảm nhẹ 3 usd (0.21%) còn 1427 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 giảm 4 usd (0.27%) xuống 1456 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US tăng 1.05 cent (1%) lên 106.95 cent/lb. Còn café arbica giao tháng 12 cũng tăng tương tự 1.05% cent (1%) lên 110.75 cent/lb.
    Giá nông sản tăng khá mạnh
    Giá Ngô giao tháng 9/2019
    giao dịch tại Chicago tăng 9.25 cent (2.13%) lên 444.25 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago tăng thêm 4.75 cent (0.53%) lên 905 cent/bushel.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 cũng tăng 1.6usd (0.51%) lên 314 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicago tăng 16.75 cent (3.32%) lên 521.5 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 giảm 18 usd (0.72%) xuống 2491 usd/tấn, còn cacao giao tháng 12 cũng giảm 17 usd (0.67%) xuống 2529 usd/tấn.
    Bông sợi giao tháng 12 giảm 0.74 cent (1.16%) còn 63.08 cent/lb
    Đường giao giao tháng 10 giảm 0.96% còn 12.38 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng tiếp tục điều chỉnh 1.1 usd (1%) xuống 108.55 usd/tấn. Cao su TSR giao tháng 9 giảm nhẹ còn 139.2 cent/kg (giảm 0.2 cent)
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 tăng 2.9 jpy (1.37%) lên 214.8 jpy/kg.
     
  15. Trên sàn Comex trong phiên giao dịch hôm qua giá bạc giao tháng 9 tăng 0.59% lên 15.236 usd/oz. Còn giá đồng giao tháng 9 tăng 0.24% lên 2.694 usd/lb
    Trên sàn NYMEX giá bạch kim giao tháng 10 tăng 3.7 usd lên 834.6 usd/oz
    Giá dầu tăng nhẹ
    Kết thúc phiên giao cuối tuần, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 9 trên sàn Nymex tăng nhẹ lên 60.3 usd/barrel.. Còn giá dầu Brent giao tháng 9 trên sàn London cũng tăng 0.2 usd lên 66.72 usd/barrel. Tính chung cả tuần, giá dầu Brent tăng 4% và dầu thô Mỹ tăng 4,7%.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 tăng nhẹ 0.38% lên 1.9261 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 tăng 1.36% lên 2.434 usd/MMBtu.
    Giá café
    Tỷ giá usd/brl giao dịch hiện ở mức 1 usd đổi được 3.74 brl. Theo Cooxupé, hợp tác xã sản xuất cà phê lớn nhất Brasil và cả thế giới với sản lượng vụ mùa đang thu hoạch khoảng hơn 7 triệu bao, cho biết tuy giá cà phê thế giới đang giảm thấp nhưng họ vẫn bán cà phê theo kế hoạch của họ. Tại Diễn đàn các nhà sản xuất cà phê thế giới diễn ra 2 ngày vừa qua ở Campinas, vùng cà phê đặc sản nổi tiếng của bang São Paulo, ông Tổng giám đốc Cooxupé cho rằng trong 6 tháng đến 1 năm nữa sẽ chứng kiến giá cà phê cao, sau khi đánh giá sương giá vừa qua gây ra cho hợp tác xã thiệt hại vào khoảng 5%.
    Trong phiên giao dịch ngày 12/7 , giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London giảm nhẹ 3 usd (0.21%) còn 1424 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 giảm 4 usd (0.27%) xuống 1452 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US giảm 0.3 cent (0.28%) còn 106.65 cent/lb.Giá café arbica giao tháng 12 cũng giảm 0.35 cent (0.35%) xuống 110.4 cent/lb.
    Giá nông sản tiếp tục tăng do dự báo thời tiết nắng nóng làm gia tăng lo ngại về năng suất cây trồng suy giảm.
    Giá Ngô giao tháng 9/2019 giao dịch tại Chicago tăng 10 cent (2.3%) lên 454.25 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago tăng thêm 14 cent (1.56%) lên 919 cent/bushel.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 cũng tăng 2.5 usd (0.8%) lên 316.5 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicago chỉ tăng thêm 1.5 cent (0.3%) lên 523 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 tăng 12 usd(0.48%) lên 2503 usd/tấn, còn cacao giao tháng 12 cũng tăng 8 usd (0.31%) lên 2537 usd/tấn.
    Bông sợi giao tháng 12 giảm tiếp 0.4 cent (0.63%) còn 62.68 cent/lb
    Đường giao giao tháng 10 giảm 0.64% còn 12.3 cent/lb. Tính chung cả tuần giá đường giảm 0,5%, do nguồn cung toàn cầu dồi dào gây áp lực giá.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 tăng nhẹ thêm 0.7 usd (0.64%) lên 109.25 usd/tấn. Cao su TSR giao tháng 9 giảm 0.43% còn 138.6 cent/kg
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 giảm 1.5 jpy (0.7%) còn 213.3 jpy/kg.
     
  16. Giá dầu kỳ hạn giảm sâu
    Kết thúc phiên giao hôm qua, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 9 trên sàn Nymex tăng giảm 1.94 usd (3.25%) còn 57.74 usd/barrel.. Còn giá dầu Brent giao tháng 9 trên sàn London cũng giảm 2.13 usd (3.2%) xuống mức 64.35 usd/barrel.
    Trong khi đó giá xăng giao tháng 9 giảm 2.2% còn 1.8448 usd/gallon. Giá khí thiên nhiên giao tháng 9 giảm tiếp 4.19% còn 2.286 usd/MMBtu.
    Trên sàn Comex trong phiên giao dịch hôm qua giá bạc giao tháng 9 tăng tiếp 2.04% % lên 15.678 usd/oz. Còn giá đồng giao tháng 9 giảm nhẹ 0.41% còn 2.7 usd/lb
    Trên sàn NYMEX giá bạch kim giao tháng 10 tăng 1.7 usd lên 846.9 usd/oz
    Giá café giảm mạnh
    Tỷ giá usd/brl tiếp tục tăng thêm 0.35% hiện ở mức 1 usd đổi được 3.768 brl. Về nguồn cung, báo cáo mới nhất từ ICE cho thấy lượng Arabica tồn kho đang ổn định ở mốc 2,367 triệu bao – không có nhiều thay đổi so với cuối tuần trước. Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ USDA ước tính, sản lượng cà phê dự trữ của Brazil sẽ đạt mức 3.864 triệu bao – mức cao kỷ lục trong vòng 4 năm trở lại đây.
    Trong phiên giao dịch ngày 16/7 , giá café robusta giao tháng 9 trên sàn ICE London giảm 33 usd (2.3%) còn 1401 usd/tấn. Còn café robusta giao tháng 11 giảm 33 usd (2.25%) xuống 1431 usd/tấn.
    Trong khi đó giá café Arabica giao tháng 9 trên sàn ICE US giảm 4.7cent (4.26%) còn 105.55 cent/lb. Giá café arbica giao tháng 12 cũng giảm 4.65 cent (4.08%) xuống 109.35 cent/lb.
    Giá nông sản tiếp tục điều chỉnh
    Giá Ngô giao tháng 9/2019
    giao dịch tại Chicago giảm 5.75 cent (1.3%) còn 435.25 cent/bushel.
    Giá đậu tương giao tháng 9 giao dịch tại Chicago giảm thêm 14 cent (1.54%) còn 893.75 cent/bushel.
    Giá khô đậu tương giao tháng 9 cũng giảm 3.4 usd (1.09%) còn 309.9 usd/tấn.
    Trong khi đó Giá lúa mỳ giao tháng 9 trên sàn Chicago giảm nhẹ 0.25 cent còn 507.5 cent/bushel.
    Trên sàn ICE US giá một số mặt hàng giao như sau:
    Cacao giao tháng 9 tăng 9 usd (0.37%) lên 2429 usd/tấn
    Bông sợi giao tháng 12 giảm 0.89 cent (1.39%) còn 63.06 cent/lb
    Đường giao giao tháng 10 giảm 0.58% còn 11.99 cent/lb.
    Trên sàn SGX giá quặng sắt 62% Fe giao tháng 9 giảm nhẹ 0.28% còn 111.13 usd/tấn. Cao su TSR giao tháng 9 giảm 0.93% còn 138.7 cent/kg
    Trên sàn TOCOM giá cao su giao tháng 9 tăng 3.6 jpy (1.69%) lên 216.9 jpy/kg.
     

Bình luận mới nhất

  • thangnd.1211 trong Thị trường phái sinh VN30 98 Xem / 4 Trả lời
  • Đang tải...
    Đang tải...