1. Đặc điểm cơ bản về 7 ngân hàng trung ương lớn thế giới

    Đặc điểm cơ bản về 7 ngân hàng trung ương lớn thế giới
    05/10/2018
    1,756 lượt xem
    Một yếu tố chắc chắn làm di chuyển các thị trường tiền tệ đó là lãi suất. Có thể bạn chưa biết nhưng lãi suất là một trong những lý do khiến các nhà đầu tư lớn chuyển dòng tiền của họ từ nước này sang nước khác nhằm tìm kiếm mức lợi nhuận cao hơn và an toàn hơn.

    Trong nhiều năm qua, lãi suất ngày càng tăng giữa các quốc gia là trọng tâm chính của các nhà đầu tư chuyên nghiệp, nhưng điều mà hầu hết các nhà đầu tư cá nhân không biết con số của lãi suất không quan trọng - điều thực sự quan trọng là kỳ vọng về lãi suất tỷ giá ở đâu trong tương lai.

    Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng nhau xem xét cấu trúc và trọng tâm chính của mỗi ngân hàng trung ương lớn để cung cấp cho mọi người một cái nhìn tổng thể nhất và nơi nắm quyền kiểm soát lãi suất và cách làm thế nào để kết hợp các chính sách tiền tệ tương đối của mỗi ngân hàng trung ương để dự đoán lãi suất.

    Ví dụ

    Lấy ví dụ về cặp tiền tệ NZD / JPY từ năm 2002 đến năm 2005. Trong thời gian đó, ngân hàng trung ương của New Zealand đã tăng lãi suất từ 4,75% lên 7,25%. Mặt khác, Nhật Bản giữ lãi suất ở mức 0%, tương đương lãi suất chênh lệch giữa đồng đô la New Zealand và đồng yên Nhật đã mở rộng 250 pips. Điều này đã góp phần tăng giá 58% giá NZD / JPY trong cùng thời kỳ.

    Mặt khác, thấy rằng trong suốt năm 2005, đồng bảng Anh giảm hơn 8% so với đồng đô la Mỹ. Mặc dù Vương quốc Anh có lãi suất cao hơn so với Hoa Kỳ trong suốt 12 tháng đó, nhưng cuối cùng đồng bảng Anh lại bị ảnh hưởng. Điều này khẳng định rằng không phải quốc gia nào có lãi suất cao hơn thì có lợi hơn.

    7-ngan-hang-trung-uong-lon-tren-the-gioi-1.

    Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED)


    Cấu trúc - Cục Dự trữ Liên bang có lẽ là ngân hàng trung ương có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Với đồng đô la Mỹ chiếm 90% trongtất cả các giao dịch tiền tệ, ảnh hưởng của FED sâu rộng đến việc xác định giá trị của nhiều loại tiền tệ. Bộ phận nhỏ trong FED quyết định lãi suất là Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC), bao gồm bảy thống đốc của Ban Dự trữ Liên bang cộng với năm chủ tịch của 12 ngân hàng dự trữ cấp Quận.

    Nhiệm vụ: Sự ổn định giá dài hạn và tăng trưởng bền vững

    Tần suất họp: 8 lần một năm

    7-ngan-hang-trung-uong-lon-tren-the-gioi-2.

    Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB)


    Cấu trúc - Ngân hàng Trung ương châu Âu được thành lập vào năm 1999. Hội đồng quản trị của ECB là nhóm quyết định thay đổi chính sách tiền tệ. Hội đồng bao gồm sáu thành viên của ban điều hành ECB, cộng với các thống đốc của tất cả các ngân hàng trung ương quốc gia từ 12 quốc gia khu vực đồng Euro.

    Là ngân hàng trung ương lớn, ECB không thích sự bất ngờ. Vì vậy, bất cứ khi nào nó có kế hoạch thay đổi lãi suất, nó thường sẽ cung cấp cho thị trường thông báo rõ ràng bằng cách cảnh báo về một động thái sắp xảy ra thông qua công bố báo chí.

    Nhiệm vụ: Ổn đinh giá cả và tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, không giống như FED, ECB cố gắng duy trì mức tăng trưởng hàng năm về giá tiêu dùng dưới 2%. Là một nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu, ECB cũng có lợi ích trong việc ngăn chặn sức mạnh dư thừa trong tiền tệ của mình bởi vì điều này đặt ra một rủi ro cho xuất khẩu của họ.

    Tần suất họp: Hàng tuần nhưng các quyết định chính sách thường chỉ được thực hiện tại các cuộc họp có một cuộc họp báo kèm theo và những điều đó xảy ra 11 lần một năm.

    7-ngan-hang-trung-uong-lon-tren-the-gioi-3.

    Ngân hàng Anh (BoE)


    Cấu trúc: Ủy ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng Anh là một ủy ban gồm chín thành viên gồm một thống đốc, hai phó thống đốc, hai giám đốc điều hành và bốn chuyên gia bên ngoài. BoE, dưới sự lãnh đạo của Mervyn King, được coi là một trong những ngân hàng trung ương hoạt động hiệu quả nhất.

    Nhiệm vụ: Duy trì sự ổn định về tài chính và tiền tệ. Nhiệm vụ chính sách tiền tệ của BoE là giữ giá ổn định và duy trì niềm tin vào tiền tệ. Để thực hiện điều này, ngân hàng trung ương có mục tiêu hướng lạm phát ở mức 2%. Nếu giá vi phạm mức đó, ngân hàng trung ương sẽ xem xét kiềm chế lạm phát, khi mức thấp hơn 2% sẽ khiến ngân hàng trung ương thực hiện các biện pháp để tăng lạm phát.

    Tần suất cuộc họp: Hàng tháng

    7-ngan-hang-trung-uong-lon-tren-the-gioi-4.

    Ngân hàng Nhật Bản (BoJ)


    Cấu trúc: Ủy ban chính sách tiền tệ của Nhật Bản bao gồm thống đốc BoJ, hai phó thống đốc và sáu thành viên khác. Do Nhật Bản rất phụ thuộc vào xuất khẩu, nên BoJ kiểm soát đồng tiền nước mình để nó không trở nên mạnh hơn (giống Euro). Ngân hàng trung ương nhúng tay vào thị trường để làm suy yếu giả tạo tiền tệ của mình bằng cách neo nó so với đô la Mỹ và Euro.

    Nhiệm vụ: Để duy trì sự ổn định về giá và để đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính nên BoJ tập trung vào việc kiểm soát lạm phát

    Tần suất họp: Một hoặc hai lần một tháng

    7-ngan-hang-trung-uong-lon-tren-the-gioi-8.

    Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ (SNB)


    Cấu trúc: Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ có một ủy ban ba người đưa ra quyết định về lãi suất. Không giống như hầu hết các ngân hàng trung ương khác, SNB xác định dải lãi suất chứ không phải một con số mục tiêu cụ thể. Giống như Nhật Bản và khu vực đồng Euro, Thụy Sĩ cũng phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu. Do đó, xu hướng chung của nó là thận trọng hơn với việc tăng lãi suất.

    Nhiệm vụ: Đảm bảo ổn định giá

    Tần suất họp: Hàng quý

    7-ngan-hang-trung-uong-lon-tren-the-gioi-5.

    Ngân hàng Canada (BoC)


    Cơ cấu - Quyết định chính sách tiền tệ trong Ngân hàng Canada được thực hiện bởi một cuộc bỏ phiếu đồng thuận của Hội đồng quản trị, bao gồm Thống đốc Ngân hàng Canada, Phó thống đốc cấp cao và bốn phó thống đốc.

    Nhiệm vụ - Duy trì tính toàn vẹn và giá trị của đồng tiền. Ngân hàng trung ương có mục tiêu lạm phát là 1-3% và đã thực hiện tốt công việc giữ lạm phát kể từ năm 1998.

    Tần suất họp - Tám lần một năm

    7-ngan-hang-trung-uong-lon-tren-the-gioi-6.

    Ngân hàng dự trữ Úc (RBA)


    Cấu trúc: Ủy ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng Dự trữ Úc bao gồm thống đốc ngân hàng trung ương, phó thống đốc, thư ký của thủ quỹ và sáu thành viên độc lập do chính phủ chỉ định.

    Nhiệm vụ: Để đảm bảo sự ổn định của tiền tệ, đảm bảo việc làm đầy đủ và thịnh vượng kinh tế và phúc lợi của người dân Úc. Ngân hàng trung ương có mục tiêu lạm phát 2-3% mỗi năm.

    Tần suất họp: 11 lần một năm, thường vào thứ Ba đầu tiên của mỗi tháng (ngoại trừ tháng 1)

    7-ngan-hang-trung-uong-lon-tren-the-gioi-7.

    Ngân hàng dự trữ New Zealand (RBNZ)


    Cấu trúc: Không giống như các ngân hàng trung ương khác, quyền quyết định về chính sách tiền tệ cuối cùng thuộc về thống đốc ngân hàng trung ương.

    Nhiệm vụ: Duy trì sự ổn định về giá và tránh sự bất ổn về sản lượng, lãi suất và tỷ giá hối đoái. RBNZ có mục tiêu lạm phát là 1,5%. Tập trung vào mục tiêu này vì không đáp ứng được nó có thể dẫn đến sự bãi nhiệm thống đốc RBNZ.

    Tần suất họp: Tám lần một năm

    Nguồn investopedia.com
     
    Chỉnh sửa cuối: 08/10/2018

Bình luận mới nhất

  • duongqua trong Chuyện bên lề 1,207 Xem / 32 Trả lời
  • duongqua trong Chuyện bên lề 2,126 Xem / 37 Trả lời
  • tommy3000 trong Thị trường CFD - Index quốc tế 371 Xem / 22 Trả lời
  • duongqua trong Chuyện bên lề 1,322 Xem / 10 Trả lời
  • duongqua trong Chuyện bên lề 873 Xem / 19 Trả lời
  • Đang tải...
    Đang tải...