Tổng quan về giao dịch hàng hóa tương lai (futures commodity)

Thảo luận trong 'Thị trường CFD - Index quốc tế' bắt đầu bởi commodityft, 12/06/2019.

  1. Hợp đồng tương lai (futures contract) là một hợp đồng chuẩn hóa giữa hai bên nhằm trao đổi một tài sản cụ thể có chất lượng và khối lượng chuẩn hóa với giá thỏa thuận hôm nay (gọi là giá tương lai (futures price) hay giá xuất phát) nhưng lại giao hàng vào một thời điểm cụ thể trong tương lai, ngày giao hàng). Các hợp đồng này được giao dịch thông qua sàn giao dịch tương lai (futures exchange). Một bên đồng ý mua tài sản cơ sở trong tương lai, hay "bên mua" trong hợp đồng, gọi là "trường vị" (long), còn một bên đồng ý bán trong tương lai, hay "bên bán" trong hợp đồng, gọi là "đoản vị" (short). Thuật ngữ trên phản ánh kỳ vọng của các bên - người bán hy vọng giá hàng hóa sẽ giảm, còn người mua hy vọng giá hàng hóa sẽ tăng. Lưu ý rằng tự bản thân hợp đồng không tốn phí khi ký kết; thuật ngữ mua/bán chỉ là công cụ ngôn ngữ thuận tiện để phản ánh vị thế của các bên (trường vị hoặc đoản vị).
    Trong khi hợp đồng tương lai nói đến việc mua bán trong tương lai thì mục đích của sở giao dịch tương lai là giảm thiểu rủi ro phá vỡ hợp đồng giữa hai bên. Do đó, việc mua bán đòi hỏi cả hai bên đặt cọc một khoản tiền ban đầu, gọi là tiền ký quỹ (hay "biên", margin). Ngoài ra, thông thường do giá tương lai thay đổi hàng ngày nên mức chênh lệch giữa giữa giá đã ấn định trước và giá tương lai mỗi ngày cũng được tính toán lại mỗi ngày. Trung tâm giao dịch sẽ rút tiền trong tài khoản ký quỹ của một bên và chuyển vào tài khoản của bên kia, sao cho mỗi bên sẽ nhận được khoản lãi hay lỗ thích hợp mỗi ngày. Nếu tài khoản ký quỹ xuống thấp hơn một giá trị nào đó thì người ta sẽ yêu cầu thêm khoản ký quỹ (gọi là "gọi vốn biên") và chủ sở hữu sẽ phải bổ sung thêm tiền vào tài khoản này. Quy trình này gọi là neo giá thị trường (marking to the market). Do đó, vào ngày giao hàng, số tiền mua bán không phải theo giá ghi trong hợp đồng mà là giá trị giao ngay (do mọi khoản lãi và lỗ trước đó đã được thanh quyết toán thông qua quá trình neo giá thị trường).
     
    Đang tải...

    [QC] - THÔNG TIN TỪ NHÀ TÀI TRỢ

  2. Hợp đồng tương lai hàng hóa cơ bản: Hàng hóa cơ bản ở đây bao gồm các loại nông sản, kim loại và năng lượng. Hợp đồng tương lai nông sản có thể được lập cho các loại ngũ cốc (ngô, gạo, lúa mỳ, đậu tương, …), nhóm hàng công nghiệp nhẹ: bông, cà phê, ca cao, đường … Nhóm các sản phẩm kim loại gồm vàng, bạc, nhôm, platinum, palladium, chì, nickel, thiếc, kẽm và đồng. Nhóm năng lượng chủ yếu gồm dầu đốt nóng (heating oil), dầu thô, khí thiên nhiên, xăng không chì, than, propane và điện. Thông thường, các hợp đồng tương lai đối với hàng hóa cơ bản đều được áp dụng phương thức thanh toán vật chất.
    Để giảm thiểu rủi ro tín dụng cho sàn giao dịch, các thương nhân phải chuyển một khoản tiền biên (biên tế, tiền ký quỹ) hoặc một khoản tiền bảo đảm thực hiện hợp đồng , thường bằng 5%-11 % giá trị hợp đồng.

    Ví dụ: mua 1 lot đường giao tháng 9/2019 giá hiện tại là 0.1283 usd/pound tổng giá trị hợp đồng sẽ là 0.1283* 112000 = 14,369.6 usd. Nhà đầu tư chỉ cần kq 1 khoản là 1,256 usd

    Để giảm thiểu rủi ro đối tác đối với các thương nhân, các giao dịch thực hiện trên các sàn giao dịch tương lai được điều chỉnh được đảm bảo bằng một ngân hàng thanh toán bù trừ. Ngân hàng thanh toán bù trừ này trở thành người mua đối với mỗi người bán, và là người bán đối với mỗi người mua, vì thế trong trường hợp bội ước phía đối tác thì ngân hàng phải gánh rủi ro thua lỗ vào mình. Điều này cho phép các thương nhân giao dịch mà không cần phải thực hiện việc tthẩm định về đối tác của mình.
    Các yêu cầu biên được từ bỏ hoặc giảm trong một số trường hợp cho các nhà tự bảo hiểm (hedger) có quyền sở hữu vật chất đối với hàng hóa được bảo chứng hoặc cho các thương nhân chênh lệch giá có các hợp đồng bù trừ làm cân bằng vị thế.
     
  3. Biên bù trừ (clearing margin) là các biện pháp bảo vệ tài chính để bảo đảm rằng các công ty/doanh nghiệp thực hiện các hợp đồng tương lai hay hợp đồng quyền chọn còn trạng thái mở đối với khách hàng của họ. Các biên bù trừ khác với các biên khách hàng là khoản tiền biên mà mỗi người bán hay mỗi người mua các hợp đồng tương lai/hợp đồng quyền chọn phải đặt cọc/ký quỹ với các nhà môi giới.
    Biên khách hàng (customer margin): Trong lĩnh vực hợp đồng tương lai, các đảm bảo tài chính được yêu cầu đối với cả người bán và người mua của các hợp đồng tương lai và đối với người bán của các hợp đồng quyền chọn để bảo đảm cho việc hoàn thành các nghĩa vụ đối với hợp đồng. Các thương nhân ủy thách hợp đồng tương lai chịu trách nhiệm giám sát các tài khoản biên khách hàng. Các mức biên này được xác định trên cơ sở rủi ro thị trường và giá trị hợp đồng. Nó còn được gọi là biên bảo đảm thực hiện hợp đồng.
    Biên khởi đầu (initial margin) là giá trị vốn chủ sở hữu bắt buộc phải có để khởi đầu một vị thế hợp đồng tương lai. Nó là một kiểu bảo đảm thực hiện hợp đồng. Rủi ro tổn thất tối đa không bị giới hạn trong phạm vi giá trị của biên khởi đầu, tuy nhiên yêu cầu về biên khởi đầu được tính toán dựa trên thay đổi ước tính tối đa về giá trị hợp đồng trong một ngày giao dịch. Biên khởi đầu được sàn giao dịch thiết lập.
    Nếu một vị thế bao gồm một sản phẩm giao dịch trao đổi, giá trị hoặc phần trăm biên khởi đầu được thiết lập bởi sàn giao dịch có liên quan.
    Trong trường hợp thua lỗ hoặc nếu giá trị của biên khởi đầu xuống thấp hơn một mức nhất định thì nhà môi giới sẽ thực hiện gọi biên để phục hồi giá trị của biên khởi đầu khả dụng. Thường được nói đến như là "biên biến đổi" (variation margin), biên được gọi vì lý do này thường được thực hiện trên cơ sở mỗi ngày, tuy nhiên, trong thời gian xảy ra biến động mạnh thì nhà môi giới có thể thực hiện gọi một biên/nhiều biên trong ngày.
    Các gọi biên thường được dự kiến là được trả/nhận trong cùng một ngày. Nếu không thì nhà môi giới có quyền đóng đủ lượng vị thế của khách hàng để đạt được giá trị như có được bằng cách gọi biên. Sau khi vị thế bị đóng lại thì khách hàng tự chịu trách nhiệm đối với bất kỳ thiếu hụt nào phát sinh trong tài khoản của mình do bị đóng vị thế.
    Một vài sàn giao dịch tại Hoa Kỳ cũng sử dụng thuật ngữ "biên duy trì" (maintenance margin), được xác định theo mức mà giá trị của biên khởi đầu có thể giảm xuống trước khi gọi biên được thực hiện. Tuy nhiên, phần lớn các nhà môi giới phi-Hoa Kỳ chỉ sử dụng các thuật ngữ "initial margin" và "variation margin".
    Yêu cầu về biên khởi đầu được sàn giao dịch hợp đồng tương lai thiết lập.
    Tài khoản hợp đồng tương lai được neo giá theo thị trường mỗi ngày (thường là giá đóng cửa cuối ngày giao dịch). Nếu như biên rơi xuống dưới mức quy định của duy trì biên do sàn giao dịch niêm yết hợp đồng tương lai thiết lập thì một gọi biên sẽ được phát hành để đưa tài khoản trở lại mức được quy định.
     
  4. Biên duy trì (Maintenance margin): Mức biên tối thiểu thiết lập cho hợp đồng tương lai còn vị thế mở mà khách hàng phải duy trì trong tài khoản biên của họ.
    Tỷ suất biên-vốn chủ sở hữu (Margin-equity ratio) là thuật ngữ được các nhà đầu cơ sử dụng, tương ứng với phần giá trị trong vốn kinh doanh của họ phải giữ ở tài khoản biên vào bất kỳ thời gian cụ thể nào. Các yêu cầu biên thấp đối với các hợp đồng tương lai tạo ra mức đòn bẩy đáng kể của việc đầu tư. Tuy nhiên, các sàn giao dịch luôn yêu cầu một giá trị tối thiểu phụ thuộc vào từng loại hợp đồng và từng loại thương nhân. Nhà môi giới có thể thiết lập yêu cầu cao hơn, nhưng không thể thiết lập thấp hơn. Tất nhiên, thương nhân có thể thiết lập yêu cầu biên cao hơn các mức biên của sàn giao dịch hay của nhà môi giới, nếu như ông/bà ta không muốn bị gọi biên liên tục.
    Biên bảo đảm thực hiện hợp đồng (Performance bond margin): Số tiền mà cả người bán lẫn người mua của một hợp đồng tương lai hoặc người bán của hợp đồng quyền chọn phải ký quỹ để đảm bảo thực hiện các điều kiện của hợp đồng. Biên trong giao dịch hàng hóa không phải là một khoản thanh toán vốn chủ sở hữu hay một khoản thanh toán trước đối với chính hàng hóa ấy, mà đúng hơn thì nó là một khoản ký quỹ bảo chứng.
    Doanh lợi biên (Return on margin, viết tắt: ROM) thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh do nó thể hiện mức lãi hay lỗ khi so với rủi ro cảm nhận được của sàn giao dịch như được phản ánh trong biên cần phải có. ROM có thể được tính toán như là tỷ suất của doanh lợi thu được trên biên khởi đầu. ROM niên hóa tương đương với (ROM + 1)(năm/khoảng_thời_gian_giao_dịch)-1. Chẳng hạn, nếu một thương nhân kiếm được ROM bằng 10% trên biên trong 2 tháng, thì ROM niên hóa sẽ khoảng 77%.
    Giao hàng vật chất – số lượng tài sản cơ sở được ghi trong hợp đồng được người bán của hợp đồng giao cho sàn giao dịch, hoặc là số lượng tài sản cơ sở được ghi trong hợp đồng được sàn giao dịch giao cho người mua của hợp đồng. Giao hàng vật chất là phổ biến đối với hàng hóa và trái phiếu. Trên thực tế, nó chỉ xảy ra đối với một số ít các hợp đồng. Phần lớn các hợp đồng được triệt tiêu bằng việc mua một vị thế bảo chứng – nghĩa là mua vào một hợp đồng để triệt tiêu một hợp đồng bán trước đó (đóng đoản vị/đóng vị thế bán khống), hoặc bán ra một hợp đồng để thanh lý một hợp đồng mua trước đó (đóng trường vị). Các hợp đồng tương lai dầu thô giao dịch tại NYMEX sử dụng phương thức này để quyết toán khi đáo hạn.
    Thanh toán tiền – một khoản thanh toán bằng tiền được thực hiện dựa theo giá của tài sản cơ sở dùng làm tham chiếu, chẳng hạn chỉ số lãi suất ngắn hạn hoặc giá trị lúc đóng cửa của một chỉ số thị trường chứng khoán. Các bên quyết toán bằng việc chi trả/nhận số tiền thua lỗ/số tiền lãi liên quan tới hợp đồng bằng tiền khi hợp đồng đáo hạn. Các hợp đồng tương lai thanh toán bằng tiền là những hợp đồng mà trên thực tế không thể quyết toán bằng việc giao mặt hàng tham chiếu, chẳng hạn như người ta không thể giao nhận một chỉ số. Một hợp đồng tương lai cũng có thể lựa chọn quyết toán so với một chỉ số dựa trên giao dịch trên thị trường giao ngay có liên quan. Các hợp đồng tương lai dầu Brent giao dịch tại ICE sử dụng phương thức này.
    Đáo hạn là thời gian và ngày mà tháng giao hàng cụ thể của hợp đồng tương lai ngừng giao dịch, cũng như giá quyết toán cuối cùng cho hợp đồng đó. Đối với nhiều hợp đồng tương lai về chỉ số chứng khoán hay lãi suất cũng như phần lớn các hợp đồng quyền chọn cổ phiếu, điều này xảy ra vào ngày Thứ Sáu lần thứ ba của các tháng giao dịch nhất định. Vào ngày này thì hợp đồng tương lai t+1 trở thành hợp đồng tương lai t. Ví dụ, đối với phần lớn các hợp đồng của CMECBOT, vào lúc đáo hạn hợp đồng tháng 12 thì hợp đồng tương lai Tháng Ba (năm sau) trở thành hợp đồng gần nhất. Đây là khoảng thời gian sôi động cho các nhà kinh doanh acbit (cơ lợi), là những người cố gắng kiếm lãi nhanh trong khoảng thời gian ngắn (có thể chỉ kéo dài khoảng 30 phút) mà khi đó giá tiền ngay và giá hợp đồng tương lai của tài sản cơ sở đôi khi không hội tụ. Vào khoảng thời gian này các hợp đồng tương lai và tài sản cơ sở có tính thanh khoản cực kỳ cao và bất kỳ khác biệt nào giữa một chỉ số và một tài sản cơ sở đều nhanh chóng bị các nhà kinh doanh acbit giao dịch nhanh chóng.
     
  5. Biên duy trì (Maintenance margin): Mức biên tối thiểu thiết lập cho hợp đồng tương lai còn vị thế mở mà khách hàng phải duy trì trong tài khoản biên của họ.
    Tỷ suất biên-vốn chủ sở hữu (Margin-equity ratio) là thuật ngữ được các nhà đầu cơ sử dụng, tương ứng với phần giá trị trong vốn kinh doanh của họ phải giữ ở tài khoản biên vào bất kỳ thời gian cụ thể nào. Các yêu cầu biên thấp đối với các hợp đồng tương lai tạo ra mức đòn bẩy đáng kể của việc đầu tư. Tuy nhiên, các sàn giao dịch luôn yêu cầu một giá trị tối thiểu phụ thuộc vào từng loại hợp đồng và từng loại thương nhân. Nhà môi giới có thể thiết lập yêu cầu cao hơn, nhưng không thể thiết lập thấp hơn. Tất nhiên, thương nhân có thể thiết lập yêu cầu biên cao hơn các mức biên của sàn giao dịch hay của nhà môi giới, nếu như ông/bà ta không muốn bị gọi biên liên tục.
    Biên bảo đảm thực hiện hợp đồng (Performance bond margin): Số tiền mà cả người bán lẫn người mua của một hợp đồng tương lai hoặc người bán của hợp đồng quyền chọn phải ký quỹ để đảm bảo thực hiện các điều kiện của hợp đồng. Biên trong giao dịch hàng hóa không phải là một khoản thanh toán vốn chủ sở hữu hay một khoản thanh toán trước đối với chính hàng hóa ấy, mà đúng hơn thì nó là một khoản ký quỹ bảo chứng.
    Doanh lợi biên (Return on margin, viết tắt: ROM) thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh do nó thể hiện mức lãi hay lỗ khi so với rủi ro cảm nhận được của sàn giao dịch như được phản ánh trong biên cần phải có. ROM có thể được tính toán như là tỷ suất của doanh lợi thu được trên biên khởi đầu. ROM niên hóa tương đương với (ROM + 1)(năm/khoảng_thời_gian_giao_dịch)-1. Chẳng hạn, nếu một thương nhân kiếm được ROM bằng 10% trên biên trong 2 tháng, thì ROM niên hóa sẽ khoảng 77%.
    Giao hàng vật chất – số lượng tài sản cơ sở được ghi trong hợp đồng được người bán của hợp đồng giao cho sàn giao dịch, hoặc là số lượng tài sản cơ sở được ghi trong hợp đồng được sàn giao dịch giao cho người mua của hợp đồng. Giao hàng vật chất là phổ biến đối với hàng hóa và trái phiếu. Trên thực tế, nó chỉ xảy ra đối với một số ít các hợp đồng. Phần lớn các hợp đồng được triệt tiêu bằng việc mua một vị thế bảo chứng – nghĩa là mua vào một hợp đồng để triệt tiêu một hợp đồng bán trước đó (đóng đoản vị/đóng vị thế bán khống), hoặc bán ra một hợp đồng để thanh lý một hợp đồng mua trước đó (đóng trường vị). Các hợp đồng tương lai dầu thô giao dịch tại NYMEX sử dụng phương thức này để quyết toán khi đáo hạn.
    Thanh toán tiền – một khoản thanh toán bằng tiền được thực hiện dựa theo giá của tài sản cơ sở dùng làm tham chiếu, chẳng hạn chỉ số lãi suất ngắn hạn hoặc giá trị lúc đóng cửa của một chỉ số thị trường chứng khoán. Các bên quyết toán bằng việc chi trả/nhận số tiền thua lỗ/số tiền lãi liên quan tới hợp đồng bằng tiền khi hợp đồng đáo hạn. Các hợp đồng tương lai thanh toán bằng tiền là những hợp đồng mà trên thực tế không thể quyết toán bằng việc giao mặt hàng tham chiếu, chẳng hạn như người ta không thể giao nhận một chỉ số. Một hợp đồng tương lai cũng có thể lựa chọn quyết toán so với một chỉ số dựa trên giao dịch trên thị trường giao ngay có liên quan. Các hợp đồng tương lai dầu Brent giao dịch tại ICE sử dụng phương thức này.
    Đáo hạn là thời gian và ngày mà tháng giao hàng cụ thể của hợp đồng tương lai ngừng giao dịch, cũng như giá quyết toán cuối cùng cho hợp đồng đó. Đối với nhiều hợp đồng tương lai về chỉ số chứng khoán hay lãi suất cũng như phần lớn các hợp đồng quyền chọn cổ phiếu, điều này xảy ra vào ngày Thứ Sáu lần thứ ba của các tháng giao dịch nhất định. Vào ngày này thì hợp đồng tương lai t+1 trở thành hợp đồng tương lai t. Ví dụ, đối với phần lớn các hợp đồng của CMECBOT, vào lúc đáo hạn hợp đồng tháng 12 thì hợp đồng tương lai Tháng Ba (năm sau) trở thành hợp đồng gần nhất. Đây là khoảng thời gian sôi động cho các nhà kinh doanh acbit (cơ lợi), là những người cố gắng kiếm lãi nhanh trong khoảng thời gian ngắn (có thể chỉ kéo dài khoảng 30 phút) mà khi đó giá tiền ngay và giá hợp đồng tương lai của tài sản cơ sở đôi khi không hội tụ. Vào khoảng thời gian này các hợp đồng tương lai và tài sản cơ sở có tính thanh khoản cực kỳ cao và bất kỳ khác biệt nào giữa một chỉ số và một tài sản cơ sở đều nhanh chóng bị các nhà kinh doanh acbit giao dịch nhanh chóng.
     
  6. upload_2019-6-16_20-59-18.
    Bạn cho mình hỏi thăm những hợp đồng này có đáo hạn k vậy?
     
  7. tất cả những hợp đồng trên đều có đáo hạn bạn ah, tùy từng sản phẩm mà ngày thông báo đầu tiên do các sàn họ quy ước với nhau
     


  8. 3.1. Các đối tượng tham gia thị trường

    Giao dịch hợp đồng tương lai diễn ra trên các sàn giao dịch, với sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau, trong đó về cơ bản bao gồm sở giao dịch, đối tác bù trừ trung tâm, các nhà môi giới và người đầu tư (hay là người sử dụng cuối cùng các hợp đồng tương lai).
    Sở giao dịch quản lý thị trường đấu giá tập trung, nơi các hợp đồng tương lai được niêm yết và mua/bán giữa các đối tượng tham gia thị trường. Mặc dù không trực tiếp tham gia vào các giao dịch hợp đồng tương lai, sở giao dịch đóng vai trò quan trọng trong việc:
    (i) Cung cấp và đảm bảo duy trì sự hoạt động liên tục của hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho các giao dịch (và được thu phí từ các thành viên thị trường cho việc thực hiện chức năng này);
    (ii) Nghiên cứu và đưa ra thị trường các sản phẩm hợp đồng tương lai mới;
    (iii) Ban hành, giám sát và cưỡng chế thực thi các quy định và quy tắc nhằm đảm bảo thị trường hoạt động ổn định, minh bạch, công bằng và có trật tự (quy định chuẩn hóa cho sản phẩm giao dịch, quy định chống thao túng thị trường, thực thi những cơ chế nhằm giảm rủi ro cho người tham gia…);
    (iv) Cung cấp thông tin giao dịch trên thị trường.
    Đối tác bù trừ trung tâm là một bộ phận quan trọng không thể thiếu vắng trên thị trường hợp đồng tương lai. Nó có thể được hình thành một cách độc lập, tách rời với sở giao dịch và cung cấp dịch vụ thanh toán bù trừ cho một hay nhiều sở giao dịch, hoặc được tổ chức như một bộ phận của sở giao dịch. Nhiệm vụ của đối tác bù trừ trung tâm là đảm bảo cho các giao dịch hợp đồng tương lai luôn diễn ra suôn sẻ, trong đó mỗi bên tham gia đều thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng. Để thực hiện được chức năng này, đối tác bù trừ trung tâm đóng vai trò người bán đối với bên mua và người mua đối với bên bán trong các giao dịch hợp đồng tương lai. Nói cách khác, mỗi bên giao dịch hợp đồng tương lai đều chỉ có nghĩa vụ với đối tượng duy nhất là đối tác bù trừ trung tâm và đối tác bù trừ trung tâm cũng là đối tượng duy nhất có nghĩa vụ và phải thực hiện nghĩa vụ với các nhà đầu tư trên thị trường hợp đồng tương lai. Mối quan hệ này được mô tả qua lược đồ sau đây:
    Điều này hoàn toàn trái ngược với thị trường giao dịch hợp đồng kỳ hạn, nơi người mua và người bán trực tiếp gặp gỡ và giao dịch với nhau không thông qua một tổ chức trung gian như trung tâm thanh toán bù trừ.
    Như vậy, có thể thấy rằng đối tác bù trừ trung tâm không giữ các vị thế hợp đồng tương lai một cách chủ động song vẫn đặt mình là đối tác với mỗi bên tham gia trong mọi giao dịch. Ở đây, độ tin cậy của đối tác bù trừ trung tâm có ý nghĩa rất quan trọng và được đảm bảo một phần bởi chính bản thân tổ chức này với tư cách là một định chế tài chính lớn và có lượng vốn hoạt động cao. Ngoài ra, những biện pháp bảo đảm khác có thể được áp dụng và một trong số đó, cơ chế ký quỹ và điều chỉnh theo giá thị trường hàng ngày đối với các hợp đồng tương lai, sẽ được đề cập kỹ hơn ở phần sau.
    Nhà môi giới đóng vai trò cầu nối cho người mua và người bán để các giao dịch hợp đồng tương lai có thể diễn ra trên thị trường. Họ có thể chỉ đơn giản là những người thực hiện các lệnh mua, lệnh bán hợp đồng tương lai cho khách hàng, hoặc cũng tham gia giao dịch cho chính mình (hay cho công ty). Người môi giới phải được trang bị những kiến thức cơ bản về thị trường và khách hàng, có những kỹ năng giao dịch nhất định và thường phải đáp ứng yêu cầu của Sở giao dịch hay cơ quan quản lý thị trường nói chung về tiêu chuẩn hành nghề cũng như các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.
    Người sử dụng hợp đồng tương lai có thể là các cá nhân hoặc tổ chức. Họ là đối tượng mua hoặc bán hợp đồng tương lai phục vụ các mục đích đầu cơ hay phòng ngừa rủi ro của mình. Những tổ chức và cá nhân này không thể trực tiếp có mặt tại sàn giao dịch để tiến hành hoạt động mua, bán hợp đồng tương lai mà phải đặt lệnh thông qua nhà môi giới. Ngoài ra, để có thể tham gia thị trường, họ cũng phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định do sở giao dịch đặt ra.
     

Bình luận mới nhất

  • quocquang trong Thị trường phái sinh VN30 6,031 Xem / 109 Trả lời
  • quocquang trong Chuyện bên lề 1,645 Xem / 62 Trả lời
  • talu trong Quyền chọn Nhị phân - Binary Options 149 Xem / 2 Trả lời
  • Đang tải...
    Đang tải...